Tin Tức Mới

Quy định về phân cấp và lập báo cáo tài nguyên, trữ lượng dầu khí

Thông tư gồm 5 chương và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/11/2020.

Đối tượng áp dụng của Thông tư là người điều hành hoặc tổ chức, cá nhân lập báo cáo trữ lượng, tài nguyên dầu khí khi có hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí trong phạm vi lãnh thổ đất liền, nội thủy, hải đảo và các quần đảo, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan về phân cấp, báo cáo về trữ lượng, tài nguyên dầu khí trong hoạt động dầu khí.

Theo Thông tư, việc phân cấp tài nguyên, trữ lượng được thực hiện trên cơ sở kết hợp đánh giá độ tin cậy của thông tin địa chất, địa vật lý, tính khả thi về kỹ thuật, công nghệ và mức độ hiệu quả kinh tế tại thời điểm báo cáo.

Hình minh họa

Nhiệm vụ phân cấp tài nguyên, trữ lượng dầu khí, tài nguyên dầu khí được phân thành hai nhóm: tài nguyên dầu khí đã phát hiện (bằng giếng) và tài nguyên dầu khí chưa phát hiện.

Đối với các tài nguyên dầu khí đã phát hiện, tùy theo tính khả thi về kỹ thuật, công nghệ và hiệu quả kinh tế theo quan điểm của người điều hành tại thời điểm lập báo cáo, tài nguyên dầu khí được phát hiện được chia thành nhóm đã phát triển và nhóm chưa phát triển.

Đối với tài nguyên dầu khí chưa được khám phá bao gồm tài nguyên dầu khí chưa được khám phá ước tính (RI) và tài nguyên dầu khí chưa được khám phá theo lý thuyết (R2). Tài nguyên dầu khí chưa được khám phá ước tính (RI) là lượng dầu khí ước tính tại một thời điểm nhất định cho các đối tượng triển vọng đã được lập bản đồ nhưng sự tồn tại của dầu khí chưa được xác định bằng kết quả khoan. hoặc các vỉa thuộc tầng sản phẩm của mỏ đang khai thác có điều kiện địa chất được coi là thuận lợi cho tích tụ dầu khí nhưng chưa được khoan.

Tài nguyên dầu mỏ không bị phát hiện trên lý thuyết (R2) là lượng dầu và khí ước tính tại một thời điểm nhất định cho sự tích tụ dầu mỏ dự kiến ​​về mặt lý thuyết có thể tồn tại trong một tập hợp các triển vọng với các điều kiện thuận lợi. quy luật địa vật lý có lợi cho tích tụ dầu khí nhưng chưa được lập bản đồ.

Về ranh giới phân cấp tài nguyên, trữ lượng dầu khí được xác định cho từng thân dầu khí theo nguyên tắc ngoại suy phù hợp với địa chất cụ thể. Vì vậy, việc phân loại phân loại và phân bố các cơ quan dầu khí được xác định trên cơ sở các tài liệu và căn cứ cụ thể.

Khi các phương pháp tương tự được áp dụng, người vận hành phải thu thập dữ liệu từ đó và chứng minh khả năng sử dụng dữ liệu đó cho mỏ hoặc thùng chứa sẽ được tính toán để xác nhận tính đúng đắn của lựa chọn. phương pháp và các thông số tính toán.

Thông tư cũng quy định cụ thể phương pháp đánh giá tài nguyên, trữ lượng dầu khí, đối tượng đánh giá tài nguyên, trữ lượng dầu khí là thân và vỉa dầu khí.

Trường hợp cập nhật tài nguyên, trữ lượng dầu khí thì phải so sánh kết quả tính toán với kết quả trước đó và phân tích nguyên nhân thay đổi. Đặc biệt, việc tính toán trữ lượng, tài nguyên dầu khí phải theo một hệ thống đơn vị thống nhất.

Các số liệu về trữ lượng và tài nguyên dầu mỏ phải được trình bày trong một hệ thống đơn vị đo lường quốc tế phù hợp với Luật Đo lường và tham khảo các thông lệ quốc tế của ngành dầu khí.

Việc lập, phê duyệt, đăng ký và cập nhật báo cáo trữ lượng, tài nguyên dầu khí, đối với nhóm phát triển, người điều hành lập, cập nhật báo cáo trình Tập đoàn Dầu khí Việt Nam để Bộ Công Thương phê duyệt và Hội đồng thẩm định có trách nhiệm thẩm định Báo cáo, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Với tập đoàn chưa phát triển và tài nguyên dầu khí chưa được phát hiện, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam xem xét, lập hồ sơ, đánh giá và định kỳ hàng năm báo cáo Bộ Công Thương để phục vụ công tác quản lý tài nguyên và xây dựng. xây dựng chiến lược, kế hoạch tìm kiếm, khám phá và tiếp thu trong tương lai.

Đối với báo cáo các mỏ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp tài nguyên, trữ lượng dầu khí và cập nhật đăng ký hàng năm.

Đối với tài nguyên dầu khí thuộc nhóm chưa phát triển và tài nguyên dầu khí chưa được phát hiện, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có trách nhiệm thống kê, cập nhật, ghi chép nhằm phục vụ công tác quản lý và tìm kiếm thăm dò trong tương lai.

Trong quá trình thực hiện các hoạt động dầu khí, nếu việc áp dụng phân cấp và lập báo cáo khác với quy định tại Thông tư này, Người điều hành có trách nhiệm cung cấp các căn cứ, tài liệu để Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trình Bộ. Ngành Công Thương và Hội đồng thẩm định xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *